Tìm hiểu sự tích về Đức phật Thích Ca Mâu Ni

Hãy cùng Ninh Bình Stone tìm hiểu về cuộc đời của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ khi Ngài ra đời, tu thành đạo cho đến khi về cõi Niết Bàn.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vốn có tên gọi là Tất Đạt Đa, hiệu là Thích Ca, họ Kiều Tất La, cả họ cả tên Kiều Tất La Thích Ca Tất Đạt. Ngài là thái tử con vua Tịnh Phạn, mẹ là hoàng hậu Ma-gia nước Ca-tỳ-la-vệ ở Ấn Độ, đương thời đây là một đất nước rất phông thịnh nay là nước Therai ở phía nam của nước Nepal, phía đông bắc thành Ba-la-nại.
Vào một hôm trong thành Ca Tỳ La Vệ thì nhà vua mở hội ăn chơi, hoàng hậu Ma-gia sau khi dâng hương hoa cúng trong cung điện rồi đi bố thí thức ăn, quần áo cho dân thì bà trở về cung nghỉ ngơi. Trong giấc ngủ bà nằm mơ thấy có một con voi trắng với 6 chiếc ngà từ hư không xuất hiện, lấy ngà khai hông bên phải của bà mà chui ra. Thấy giấc mơ kỳ lạ nên bà đã kể lại giấc mơ cho nhà vua, vua đã cho mời các thầy đoán mộng thì họ tiên tri rằng hoàng hậu sẽ sinh được một vị quý tử tài đức song toàn.


Lời tiên đoán quả không sai. Thái tử Tất Đạt Đa sinh vào sáng sớm lúc mặt trời mọc dưới gốc cây vô ưu, trong vườn Lâm-tỳ-ni khi hoàng hậu Ma-gia đang dạo chơi ngắm cảnh. Ngài sinh vào ngày rằng tháng hai theo lịch Ấn Độ tức là ngày rằm tháng tư theo lịch Tàu.
Tương truyền rằng khi hoàng hậu sinh thái tử Tất Đạt Đa có rất nhiều điềm lạ xảy ra như trời mưa hoa thơm, quả đất rung động, nhạc trời chúc tụng và trên người ngài có 32 tướng tốt và được ông tiên A-tư-đà nhìn tướng đoán ngài có đủ 32 tướng tốt nếu như làm vua thì sẽ trở thành chuyển luân thánh vương nếu như xuất gia thì sẽ tu hành trở thành Phật. Tuy nhiên, nhà vua Tịnh Phan không muốn con mình xuất gia mà sẽ là một vị vua nối dõi ngai vàng của ngài. Chính vì thế, ngài đã đặt tên cho thái tử là Tất Đạt Đa để thay đổi số mệnh cho thái tử bởi cái tên này có nghĩa là “kẻ sẽ giữ chức vị mà mình phải giữ” đó chính là ngôi vua.
Sau khi hoàng hậu Ma-gia hạ sinh thái tử được bảy ngày thì bà đã ra đi về cõi trời. Từ đó, nhà vua đã giao thái tử Tất Đạt Đa cho em gái hoàng hậu Ma-gia là Ma Ha Ba Xà Ba Đề chăm sóc, nuôi dưỡng. Càng lớn thì thái tử càng khôi ngô tuấn tú, tài năng với một sức khỏe phi thường, thông minh xuất chúng. Các thầy dạy của thái tử từ văn cho tới võ thì chỉ đều dạy ngài trong ít ngày sau đó xin cáo bởi không còn đủ sức dạy ngài ngay cả vị thầy danh tiếng bậc nhất thời ấy là Sằn Đề Đề Bà cũng phải khuất phục.


Tuy nhiên với trí thông minh xuất chúng, ngôi vị cao sang quyền quý nhưng thái tử lại rất từ tốn, hòa nhã, bình đẳng, vô tư và không bao giờ tỏ vẻ ngạo mạn, coi thường người khác. Có thể nói rằng lòng yêu thương bao dùng con người của ngài không gì sánh bằng, ngài sẵn sáng giúp đỡ người khác dù khó khăn thế nào cũng không chối từ. Chính vì vậy, ngài luôn được vua cha rất yêu thương, dân chúng kính trọng, nể phục.
Nhà vua vốn rất yêu thương con mình nên vua Tịnh Phạn lại càng lo lắng con mình sẽ xuất gia để trở thành một vị Thánh nhân, vị Phật như tiên đoán. Đặc biệt là càng lớn thì thái tử lại càng có nhiều sự suy nghĩ xa xăm, suy tư không còn vẻ vô tư, hồn nhiên, vui tươi như thời còn thờ ấu nên nhà vua lại càng trở nên lo lắng hơn về lời tiên tri sẽ trở thành sự thật. Vì thế mà nhà vua đã làm mọi cách để lên kế hoạch để giữ thái tử ở lại ngôi báu của mình. Nhà vua đã cho xây dựng ba lâu đài nguy nga lộng lẫy cho thái tử ở để thay đổi nơi ăn chốn ở, chọn hàng trăm cung tần mỹ nữ đàn ca múa hát cho thái tử. Không những thế ngài đã sắp đặt cho thái tử lấy một nàng công chúa vô cùng xinh đẹp, đức hạnh là con của vua Thiện Giác tên là Da Du Đa La.
Thái tử kết hôn cùng công chúa và sinh ra một người con tên là La Hầu La. Thái tử sống một cuộc sống đầy danh vọng, quyền lực, vật chất, vợ con đầy đủ nhưng thái tử lại luôn cảm thấy lòng luôn băn khoăn, nặng trịu nhiều tâm sự. Thái tử cho rằng cảnh ngài đang sống không phải là hạnh phúc thực sự, đây chỉ là sự mê muội, giả dối khiến cho kiếp sống trở nên đau khổ nặng nề thêm. Ngài luôn có suy nghĩ là cần phải tìm ra một lối thoát để có được cuộc sống đầy ý nghĩa, chân thật và cao đẹp hơn.
Trong một lần tham gia lễ Hạ Điền, thái tử đã theo nhà vua ra đồng xem dân chúng lao động, cày cấy. Cảnh vật xung quanh đều yên bình, đẹp đẽ, cây cối tốt tươi, chim muông đua hót, gió xuân phơi phới thật an lạc thái bình. Tuy nhiên khi nhìn vào những cảnh vật ấy ngài lại không cảm thấy vậy. Thái tử cảm thấy cõi đời không đẹp đẽ, tươi vui khi nhìn qua mà nhìn sâu vào sự vật sẽ thấy cảnh vật, sự việc, con người luôn phải đấu tranh sinh tồn để tồn tại như người nông dân và con trâu thì phải làm việc nặng nhọc giữa thời tiết nóng nực để đổi lấy miếng ăn, chim chóc thì phải tranh nhau để kiếm côn trùng trên đồng ruộng. Trong bụi rậm thì ngài thấy người thợ săn đang nhắm bắn những con chim còn những con hổ báo thì lại đang rình rập ăn thịt người thợ săn. Tất cả những cảnh tượng diễn ra trước mắt thái tử đều là tàn sát lẫn nhau để sống mà không từ bất cứ một thủ đoạn nào. Từ đó ngài đã nhận thức rõ ràng được sự sống là khổ đau.
Lại vào một lần khác, thái tử xin phép nhà vua đi dạo ngoài cửa thành để tiếp xúc thần dân. Tại cửa đông, ngài đã gặp một ông già râu tóc bạc phơ, răng đã rụng, mắt mờ, tai điếc, lưng còng, chống gậy từng bước đi như sắp ngã. Tại cửa Nam thì ngài lại thấy có người đang đau khóc kêu rên thảm thiết nằm trên cỏ. Tại cửa Tây ngài lại thấy một cái xác người chết đang nằm giữa đường ruồi nhặng bu đầy, trương phình trông rất kinh hãi. Những cảnh tượng này khiến cho ngài vô cùng buồn đau, vô cùng xót thương cho dân chúng.
Vào một hôm, thái tử đi tới cửa Bắc thì lại gặp một vị tu sĩ có tướng mạo rất nghiêm trang, điềm tĩnh đi ngang quan đường nên trong lòng rất cảm mến vị tu sĩ này. Thái tử đã ngay lập tức đến chào hỏi về sự tu hành. Thái tử như tìm được lời giải đáp cho những mong muốn, ước mơ của mình bấy lâu nay nên rất vui mừng. Ngay sau đó ngài đã quay trở về cung để xin nhà vua cho xuất gia nhưng không được đồng ý. Thái tử đã đưa ra yêu cầu cho vua cha giải quyết được 4 điều thì ngài sẽ không đi tu nữa bao gồm: làm sao cho con trẻ mãi không già, làm sao cho con mạnh khỏe mãi không đau, làm sao cho con sống mãi không chết và làm sao cho mọi người hết khổ. Và tất nhiên nhà vua không thể giải quyết được 4 điều đó.
Khi biết được ý định xuất gia của thái tử, nhà vua đã dùng mọi cách để ngăn cản nhưng không có gì có thể ngăn cản được quyết tâm của thái tử. Vào một đêm khuya nhân lúc lính canh gác và các cung tần mỹ nữ đã ngủ say thì thái tử đã cùng người giữ ngựa Xa Nặc dậy lên ngựa trốn ra khỏi thành. Lúc này là vào ngày mùng 8 tháng 2 khi ngài đã được 19 tuổi.


Sau khi bỏ trốn ngài đã xuất gia, đến ở tu hành với các vị tu khổ hạnh nhưng nhận thấy rằng những người này sống rất kham khổ, dầm mưa, dãi nắng, không ăn không uống, hành hạ thân thể một cách dã man nên ngài đã khuyên họ nên bỏ phương pháp tu hành ấy đi bởi ngài nhận thấy cách ấy không mang lại hiệu quả.
Ngài đã đi tìm một nơi khác để tu hành, ngài đã đi khắp nơi hết chỗ này tới chỗ nọ, nghe thấy ở đâu có vị tu hành đắc đạo đều tìm đến họ nhưng tới nơi ngài đều thấy đạo của họ còn hẹp hòi không thể giải thoát tất cả cho con người. Từ đó ngài đã không đi tìm chốn tu hành nào nữa mà tự mình chốn tu tập một mình để nghiền ngẫm đến đạo giải thoát. Ngài đã quên cả ăn, quên cả ngủ khến cho thân hình ngày một xơ xác, tiều tụy, kiệt sức nằm ngã liệt trên cỏ nhưng được một người bắt gặp đổ sữa cho tỉnh lại. Cũng chính từ đó mà ngài đã nhận thức được rằng nếu muốn tu hành có kết quả thì điều quan trọng là giữ gìn sức khỏe, bổ dưỡng cho thân thể luôn được khỏe mạnh.
Tới thời điểm, ngài đã thấy mình đủ sức khỏe để chiến đấu với bóng tối si mê, dục vọng và đem lại ánh sáng giác ngộ thì ngài đã đến ngồi nhập định dưới gốc cây bồ đề với lời thề: nếu không thành đạo thì thịt nát xương tan cũng quyết không rời chỗ này. Cuối cùng sau 49 ngày đêm ngồi nhập định dưới gốc cây bồ đề để chiến đấu với bọn giặc phiền não tham, sân si,…và chiến thắng giặc Thiên Ma do Ma Vương Ba Tuần chỉ huy. Ngài đã chiến thắng được cả giặc nội tâm, ngoại cảnh nên tâm trí được khai thông, hốt nhiên đại ngộ.
Kể từ đó, ngài đã được đạo vô thương thành bậc “chính đẳng chính giác” với tên hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngài thành đạo ở tuổi 30, tính theo âm lịch là ngày mùng 8 tháng 12 lúc sao mai mọc.

(sưu tầm)